Công nghệ máy bay tầm nhiệt:Cách mạng hóa trong việc nghiên cứu Động vật Hoang dã tại Việt Nam

Trong lĩnh vực bảo tồn động vật hoang dã, những tiến bộ công nghệ đã trở nên vô cùng quan trọng trong việc giải mã những bí ẩn của thế giới tự nhiên. Trong số các đột phá này, công nghệ drone nhiệt đã nổi lên như một bước ngoặt, mang đến cho các nhà nghiên cứu một góc nhìn chưa từng có về tập tính và môi trường sống của những loài sinh vật khó tiếp cận. Tại Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ như Fauna & Flora International (FFI) Việt Nam, Three Monkey, và Save Vietnam’s Wildlife đang dẫn đầu trong việc tận dụng sức mạnh của drone nhiệt để nghiên cứu động vật hoang dã. Phương pháp tiên phong này đóng vai trò đặc biệt hữu ích, nhất là đối với các loài động vật lớn như voi và những loài sống trên cây hoặc trong khu vực núi đá vôi (ví dụ như voọc mông trắng Delacour, vượn, voọc chà vá) hoặc những loài to lớn như Voi.

FFI Việt Nam, Three Monkey, và Save Vietnam’s Wildlife đã dẫn dắt việc áp dụng công nghệ drone nhiệt trong nghiên cứu động vật hoang dã trên khắp Việt Nam. Các tổ chức này nhận thức rõ tiềm năng to lớn của hình ảnh nhiệt trong việc vượt qua những thách thức từ tán rừng dày, địa hình phức tạp và tập tính hoạt động về đêm của một số loài.

Một trong những ưu điểm chính của công nghệ drone nhiệt nằm ở khả năng xuyên qua tán rừng rậm rạp và di chuyển trong địa hình phức tạp. Đối với những loài sống trên cây, chẳng hạn như vượn, khả năng ghi nhận hình ảnh nhiệt mang đến cơ hội quan sát hành vi tự nhiên của chúng mà không gây xáo trộn. Hơn nữa, ở các hệ sinh thái núi đá vôi – nơi các phương pháp giám sát truyền thống thường không khả thi – drone nhiệt cung cấp cách thức theo dõi và nghiên cứu động vật hoang dã một cách hiệu quả.

Những loài động vật lớn, như voi, là một thách thức lớn đối với nhà nghiên cứu do khu vực sinh sống rộng lớn và tập tính di chuyển khó nắm bắt. Công nghệ drone nhiệt mang đến giải pháp không xâm phạm, cho phép các nhà bảo tồn theo dõi loài vật to lớn này với khoảng cách an toàn. Bằng cách sử dụng hình ảnh cảm biến nhiệt, các nhà nghiên cứu có thể ghi nhận nhiệt độ của loài voi ngay cả trong thảm thực vật dày hoặc khi màn đêm buông xuống, đóng góp đáng kể vào việc hiểu hơn về tập tính di cư và cấu trúc của đồng loại.

Điều này góp phần làm tăng sức mạnh cho xu hướng hiện nay, Trung tâm Công nghệ và Bảo tồn Thiên nhiên (CTNC) cũng đang bước vào lĩnh vực công nghệ drone nhiệt phục vụ nghiên cứu động vật hoang dã. Với đối tượng tập trung là loài vượn, CTNC hi vọng rằng việc ứng dụng công nghệ này sẽ nâng cao hiểu biết về các loài đang có nguy cơ tuyệt chủng. Thông qua việc tận dụng cảm biến nhiệt, CTNC mong muốn thu thập dữ liệu quan trọng hơn về quần thể vượn, đóng góp vào việc xây dựng các chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn cho các loài linh trưởng đặc biệt này.

Bắt đầu sứ mệnh khám phá những bí ẩn ẩn giấu giữa lòng các khu rừng rậm và những loài sinh vật khó nắm bắt dưới mặt đất, dòng drone nhiệt “giới hạn” (limited thermal drones) đã nổi lên như công cụ không thể thiếu cho các nhà nghiên cứu động vật hoang dã. Công nghệ mang tính cách mạng này được thiết kế để vượt qua những tán rừng dày và địa hình đầy thử thách và phức tạp, cung cấp góc nhìn vô giá về tập tính và môi trường sống của những loài sống trên mặt đất – vốn không thể quan sát bằng các phương pháp truyền thống.

Không giống với các thiết bị lớn hơn, những drone tầm nhiệt “giới hạn” này có kích thước nhỏ gọn, được chế tạo riêng để giải quyết những thách thức đặc trưng của môi trường rừng rậm. Những thiết bị linh hoạt và dễ mang theo này được trang bị khả năng ghi lại hình ảnh nhiệt tiên tiến, cho phép các nhà nghiên cứu quan sát xuyên qua tán cây và màn đêm với độ rõ nét chưa từng có.

Một trong những ưu thế chính của drone tầm nhiệt “giới hạn” là khả năng tiếp cận tán rừng dày đặc. Các phương pháp giám sát truyền thống thường gặp khó khăn trong những môi trường này, khi tầm nhìn bị cản trở bởi thảm thực vật um tùm. Tuy nhiên, drone nhiệt “giới hạn” có thể dễ dàng luồn lách qua tán cây, ghi lại dấu hiệu nhiệt và hé lộ những hoạt động ẩn giấu của các loài sống trên cây, từ những loài thú nhỏ nhất cho đến loài chim khó tìm nhất.

Đối với những loài ưa thích sự an toàn trên mặt đất rừng, drone nhiệt “giới hạn” mang lại góc nhìn độc đáo. Các thiết bị bay này có thể theo dõi những loài sống trên mặt đất, bao gồm động vật có vú, bò sát và côn trùng, mà không làm ảnh hướng đến tập tính của chúng. Kể cả là nghiên cứu tập quán kiếm ăn của các loài săn mồi khó nắm bắt hay giám sát hoạt động của các loài mặt đất có nguy cơ tuyệt chủng, drone nhiệt “giới hạn” cho phép quan sát động vật hoang dã theo cách không xâm lấn.

Ứng dụng của drone tầm nhiệt “giới hạn” không chỉ dừng lại ở giám sát. Các nhà bảo tồn có thể tận dụng dữ liệu thu thập được để xây dựng bản đồ môi trường sống, xác định các tuyến di cư quan trọng và đánh giá động thái quần thể. Bằng cách tập trung vào tầm nhìn trên mặt đất trong những khu rừng rậm rạp, các nhà nghiên cứu có được cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ phức tạp giữa các loài, từ đó đề ra các chiến lược bảo tồn hiệu quả hơn.

 

Nỗ lực Bảo tồn Rùa tại Việt Nam: Cuộc Chiến Chống Lại Nguy Cơ Tuyệt Chủng

Bảo Tồn Rùa Việt Nam: Những Nỗ Lực Cấp Thiết

Việt Nam tự hào đứng thứ sáu trên thế giới về mức độ đa dạng đối với các loài rùa, bao gồm cả rùa nước ngọt và rùa biển. Tuy nhiên, sự đa dạng sinh học phong phú này đang đối mặt với những mối đe dọa nghiêm trọng, chủ yếu do nhu cầu rùa trên thị trường toàn cầu. Những loài bò sát này nằm trong số các loài động vật hoang dã được buôn bán nhiều nhất thế giới, phục vụ cho y học cổ truyền tại Trung Quốc, thị trường thú cưng và các mục đích tiêu thụ khác. Việc mất môi trường sống và các tác động từ con người đã đẩy hơn 80% trong tổng số 32 loài rùa của Việt Nam đến bờ vực tuyệt chủng.

Đáng chú ý, không có quần thể bền vững của bất kỳ loài rùa nào tại Việt Nam, nhấn mạnh tính cấp bách của các nỗ lực bảo tồn. Trung tâm Công nghệ và Bảo tồn Thiên nhiên (CTNC) đang tiên phong trong các hoạt động này, làm việc không ngừng nghỉ để bảo vệ và khôi phục quần thể rùa. Trọng tâm được đặt vào các loài rùa cực kỳ nguy cấp và loài đặc hữu, như Rùa hộp trán vàng miền Nam (Cuora picturata), Rùa hộp trán vàng miền Bắc (Cuora galbinifrons), Rùa hộp trán vàng miền Trung (Cuora bourreti), Rùa Hoàn Kiếm mang tính biểu tượng (Rafetus swinhoei), Ba Ba gai (Palea steindachneri), Rùa bốn mắt (Sacalia quadriocellata), Rùa đầu to (Platysternon megacephalum), Rùa Trung bộ (Mauremys annamensis), và nhiều loài khác.

CTNC đang tích cực tham gia dự án phục hồi loài Palea steindachneri cực kỳ nguy cấp, một loài hiếm gặp trong tự nhiên nhưng lại phổ biến trong môi trường nuôi nhốt. Bên cạnh đó, tổ chức này cũng hướng đến việc tăng cường thực thi pháp luật để bảo vệ các loài rùa quý hiếm và đặc hữu (C. picturata, M. annamensis, C. bourretii, C. galbinifrons) trong khu vực và Việt Nam. Nỗ lực này bao gồm triển khai hệ thống tuần tra SMART tại các khu vực được bảo vệ và thiết lập những khu vực bảo tồn thích hợp cho các loài quan trọng này. Đồng thời thiết lập nhóm tuần tra giám sát bảo vệ động vật hoang dã của Trung Tâm nhằm đồng hành và hỗ trợ các VQG, KBT thực hiện hoạt động bảo vệ sinh cảnh được tốt hơn.

Các sáng kiến bảo tồn áp dụng phương pháp toàn diện, kết hợp khảo sát chuyên sâu và công nghệ tiên tiến như bẫy ảnh, DNA môi trường (eDNA) và drone nhiệt. Các phương pháp truyền thống như đánh bẫy và phỏng vấn cũng được bổ sung để hỗ trợ. Đáng chú ý, CTNC đang tập trung tìm kiếm loài rùa hiếm nhất thế giới, Rafetus swinhoei, bằng việc kết hợp công nghệ hiện đại và các kỹ thuật đã được kiểm chứng theo thời gian. Đồng thời, chúng tôi cũng làm việc với các doanh nghiệp nhằm có được các nguồn tài chính phục vụ việc tái thiết lại các vùng sinh cảnh của các loài rùa ở Việt Nam, trong đó có loài Rùa Hoàn Kiếm đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng.

Những hoạt động bảo tồn này nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết trong việc bảo vệ các loài rùa độc đáo của Việt Nam, ngăn chặn nguy cơ tuyệt chủng và đóng góp vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu. Dù thách thức rất lớn, nhưng với nỗ lực bền bỉ và sự hợp tác chiến lược, vẫn có hy vọng về một tương lai tươi sáng hơn cho các loài rùa ở Việt Nam.

CTNC mong muốn có được sự đồng hành của các nhà tài trợ và những cá nhân ủng hộ trung tâm trong sứ mệnh bảo vệ các loài quý hiếm này.


Hình ảnh

Rùa hộp trán vàng miền Bắc bị tịch thu

Hình 1: Số lượng lớn Rùa hộp trán vàng miền Bắc Cuora galbinifrons quý hiếm bị tịch thu do buôn bán động vật hoang dã trái phép tại Việt Nam

Rùa hộp trán vàng miền Bắc chờ bán

Hình 2: Dễ dàng nhìn thấy C.galbinifrons trong nhà thợ săn địa phương đang chờ bán đi cho nhà buôn

Rùa hộp trán vàng miền Trung bị mắc bẫy

Hình 3: Một chú Rùa hộp trán vàng miền Trung Cuora bourreti bị mắc bẫy ở miền Trung Việt Nam. Hàng triệu bẫy bẫy đang được đặt trong rừng đe dọa trực tiếp đến loài rùa đất. Ảnh: Lê Văn Hưởng

Rùa hộp trán vàng miền Trung bị mắc bẫy

Hình 4: Một con Rùa Cuora bourreti bị mắc bẫy ở miền Trung Việt Nam. Hàng triệu bẫy bẫy đang được đặt trong rừng đe dọa trực tiếp đến loài rùa đất. Ảnh: Lê Văn Hưởng

Rùa hộp trán vàng miền Trung bán tại nhà buôn

Hình 5: C. bourreti được bán tại nhà buôn địa phương ở miền Trung Việt Nam

Rùa Geoemyda spengleri

Hình 6: Một con Geoemyda spengleri tại nơi trú ẩn tự nhiên của nó ở Vườn quốc gia Tam Đảo

Rùa đầu to

Hình 7: Một loài đầu to được quan sát tại chỗ ở Bắc Trung Bộ Việt Nam

Rùa đầu to trong bình rượu

Hình 8: Một bức ảnh buồn về một con rùa đầu to trong bình rượu mà người Việt Nam địa phương tin rằng uống loại rượu này sẽ giúp duy trì sức khỏe

Rùa Sacalia non làm thú cưng

Hình 9: Một con Sacalia non được quan sát thấy trong ngôi nhà địa phương để làm thú cưng

Ba ba gai Palea steindachneri
Ba ba gai Palea steindachneri

Hình 10: Hai bức ảnh cuối cùng là các cá thể ba ba gai Palea steindachneri được quan sát thấy ở trang trại địa phương. Loài này rất thích hợp để nuôi nhốt, nhưng cho đến nay chỉ có một loài được ghi nhận ở phạm vi bản địa của chúng trong tự nhiên

Phát hiện quần thể vượn đen má vàng Nam (Nomascus gabriellae) ở miền Trung Việt Nam

Gần đây chuyên gia của trung tâm CTNC mới phát hiện ra một quần thể Vượn đen má vàng Nam (Nomascus gabriellae) ở một tỉnh miền Trung Việt Nam. Đây là một quần thể vượn mới chưa từng được phát hiện và nằm ngoài vùng phân bố đã biết của loài.

Hiện CTNC đã bắt đầu triển khai các chương trình khảo sát ban đầu và sẽ tiếp tục hỗ trợ đơn vị có ghi nhận đàn vượn tiếp tục bảo vệ nghiêm ngặt đàn vượn và triển khai bài bản các chương trình bảo tồn loài từ nâng cao nhận thức, áp dụng SMART vào tuần tra giám sát loài, và các nghiên cứu chuyên sâu. Hiện nay hoạt động bảo vệ ở khu vực mới phát hiện chưa ổn định do thiếu nhân lực nên chúng tôi chưa tiết lộ địa điểm cụ thể.

 

Phát hiện cá thể chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) quý hiếm đi lạc vào khu dân cư ở Tuy Hòa, Phú Yên

Gần đây trong cuối tháng 12/2023, các chuyên gia của trung tâm CTNC đã ghi nhận một cá thể chà vá chân xám đi lạc hoặc được thả ra khu vực dân cư thuộc thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Người dân cho biết có tới 2 cá thể xuất hiện ở ngôi chùa của làng mới xây vào khoảng tầm tháng 2 năm 2023. Hiện chưa rõ nguồn gốc cụ thể của cá thể này. Sau đó chúng chỉ di chuyển ở những cây ăn quả thuộc vào vườn của người dân quanh làng. Mới xuất hiện, người dân ban đầu có tính xua đuổi vì chúng có hái quả, bẻ cành cây của người dân nên bị xua đuổi. Sau một thời gian, không rõ 1 cá thể đi đâu mất, hiện chỉ còn 1 cá thể trú ngụ trên cây me nhà 1 người dân có tình yêu với con vật này. Chú hiện sống trong sự bao bọc và bảo vệ bởi người dân quanh đây. Hiện, chuyên gia của CTNC đã tham vấn ý kiến của các chuyên gia thuộc tổ chức FFI Việt Nam và trung tâm cứu hộ Linh trưởng thuộc VQG Cúc Phương để đưa ra phương án giải quyết. Người dân cho biết, mặc dù họ hết lòng bảo vệ nhưng nhiều người ở nơi khác vẫn có ý muốn đến bắt trộm cá thể chà vá chân xám quý hiếm. Họ mong muốn cơ quan chức năng đưa chú đến khu bảo tồn an toàn và có gia đình cùng loài của chú. Tuy nhiên, việc di chuyển cá thể quý hiếm thuộc nghị định 160/2013/NĐ-CP và 06/2019/NĐ-CP thì phải tuân thủ theo quy định của IUCN và kế hoạch bảo tồn loài quý hiếm phải có kế hoạch và lộ trình triển khai để tránh rủi do.

 

Loài chà vá chân xám là loài được xem là đặc hữu vùng, có phân bố hẹp ở Miền Trung Việt Nam, chỉ ghi nhận khoảng 500 cá thể và là loài quý hiếm hơn so với hai loài chà vá còn lại ở Việt Nam. CTNC cam kết bảo vệ các loài linh trưởng Việt Nam, trong đó có loài chà vá chân xám quý hiếm này.

Bảo tồn cheo cheo lưng bạc và Hệ sinh thái rừng khô hạn ven biển của Việt Nam

Trong 2 ngày 18-19/10, Tại Vườn quốc gia Núi Chúa tỉnh Ninh Thuận đã diễn ra hội thảo quốc tế “Thúc đẩy công tác bảo tồn cheo cheo lưng bạc và Hệ sinh thái rừng khô hạn ven biển của Việt Nam”. Cheo cheo lưng bạc là một trong 6 loài cheo cheo được ghi nhận trên thế giới. Tại Việt Nam có hai loài là: cheo cheo lưng bạc (Tragulus versicolor) và cheo cheo Nam Dương (Tragulus kanchil). Trong đó, cheo cheo lưng bạc là loài thú móng guốc đặc hữu của Việt Nam. Các nghiên cứu từ năm 2019 đến 2022 đã phát hiện thêm bốn quần thể cheo cheo khác đều ở các vùng sinh thái rừng khô đất thấp. Tuy nhiên mức độ phân mảnh cao đe dọa trực tiếp đến sự sống còn và phát triển ổn định của các loài động, thực vật nguy cấp, quý hiếm trong vùng nói chung, và cheo cheo lưng bạc nói riêng.

Ông Trần Văn Tiếp, Giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Núi Chúa cho biết, sau gần 3 thập kỷ vào năm 2018, bằng chứng về sự tồn tại của cheo cheo lưng bạc trong các cánh rừng tự nhiên là một trong những phát hiện quan trọng về đa dạng sinh học của Việt Nam và thế giới. Trước đó loài thú móng guốc đặc hữu này chỉ được biết đến qua các mẫu vật do các nhà tự nhiên học nước ngoài thu thập ở Khánh Hòa (các năm 1906, 1910) và Gia Lai (năm 1990).

 

Bẫy ảnh chụp được cheo cheo lưng bạc ngoài tự nhiên – Nguồn bẫy ảnh: IZW/re:wild

Theo các chuyên gia, việc săn bắt, bẫy động vật hoang dã và suy giảm chất lượng sinh cảnh sống hiện nay trở thành mối đe dọa lớn đối với loài cheo cheo lưng bạc. Nếu các quần thể động vật tiếp tục suy giảm, tình trạng mất cân bằng sinh thái sẽ ngày càng trầm trọng, và các giá trị dịch vụ hệ sinh thái con người đang thụ hưởng sẽ biến mất. Tuy nhiên, hiện nay loài cheo cheo lưng bạc không thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm; sách đỏ IUCN phân hạng thiếu dữ liệu (DD). Các hành vi săn bắn, buôn bán, tàng trữ, quảng cáo cheo cheo lưng bạc trái phép sẽ không đủ sức răn đe với việc bẫy bắt loài này ngoài tự nhiên. Các chương trình bảo vệ cheo cheo lưng bạc cũng thiếu căn cứ để bảo vệ các quần thể loài ngoài tự nhiên. Tại hội thảo cũng có một số ý kiến cần phải bảo tồn, nhân nuôi và tiến hành tái thả loài này khẩn cấp để tránh tình trạng tuyệt chủng loài ngoài tự nhiên.

Nhiều ý kiến tại hội thảo đề xuất đưa cheo cheo lưng bạc vào danh mục loài ưu tiên bảo vệ, kết hợp du lịch dựa vào thiên nhiên để tạo sinh kế, nguồn thu cho người dân địa phương. Các nhà bảo tồn cũng đề xuất Ban quản lý Vườn quốc gia Núi Chúa kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân bảo vệ đa dạng sinh học, động vật hoang dã…

Hội thảo còn nhằm tìm kiếm các giải pháp bền vững để bảo vệ cảnh quan rừng khô ven biển. Các chuyên gia còn chia sẻ bài học kinh nghiệm trong thực hiện mô hình sử dụng quỹ Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) để tăng cường tuần tra bảo vệ rừng hay thúc đẩy sự hợp tác lâu dài giữa các bên liên quan như cộng đồng địa phương, nhà khoa học, chủ rừng và các khu nghỉ dưỡng ven biển. Điều này sẽ tạo ra sự hài hòa giữa phát triển kinh tế, nâng cao sinh kế cho cộng đồng địa phương và bảo tồn đa dạng sinh học./.

Tham vấn Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí của Vườn quốc gia Bạch Mã

Hôm nay, ngày 15/9/2023 tại thành phố Huế. Trong khuân khổ thực hiện Dự án Hỗ trợ kỹ thuật “Quản lý rừng bền vững và Bảo tồn đa dạng sinh học (VFBC)” do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ, Ban quản lý Dự án VFBC tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với đơn vị thực hiện hợp phần bảo tồn đa dạn sinh học (WWF Việt Nam) ttổ chức cuộc họp tham phấn cấp tỉnh Đề án Quy  hoạch du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí của Vườn quốc gia (VQG) Bạch Mã (giai đoạn 2023-2030.

Cuộc họp có sự tham dự của hơn 80 đại biểu đến từ cơ quan Trung ương đến các đơn vị địa phương, một số tổ chức NGO và các doanh nghiệp du lịch và nhà đầu tư,… Cuộc họp đã nghe trình bày về Đề án và nhận được rất nhiều ý kiến góp ý cho ban soạn thảo.

Tọa lạc trên vùng núi cao với khí hậu mát mẻ và mưa nhiều, nơi đây còn lưu giữ cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ và hùng vĩ. Vườn quốc gia Bạch Mã đã được Chính phủ phê duyệt thành lập vào năm 1991, có diện tích 22.031 ha và vùng đệm 21.300 ha. Năm 2008, Vườn quốc gia Bạch Mã được Thủ tướng điều chỉnh mở rộng với tổng diện tích từ hơn 22.000 ha lên gần 37.500 ha.

Vườn quốc gia Bạch Mã có hầu hết các đỉnh núi cao từ 1.000-1.444 m. Thảm thực vật ở đây khá phát triển, thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa cận nhiệt đới (á nhiệt đới) ở địa hình cao trên 1.000 m và kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên địa hình dưới l.000 m.

Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, địa hình núi cao, lớp phủ thực vật rừng dày nên chế độ nhiệt ẩm Vườn quốc gia Bạch Mã tương đối ổn định. Nhiệt độ trung bình năm 16-220C, tháng lạnh nhất 5-80C, tháng nóng nhất không vượt quá 250C. Lượng mưa trung bình năm lớn nhất Việt Nam, phổ biến là 3.400-4.000 mm/năm.

Vườn quốc gia Bạch Mã có tới 16.900 ha rừng nguyên sinh che phủ. Trong rừng có 1406 loài thực vật, trong đó có nhiều loại gỗ quý như trò chỉ, kiền, giẻ hương, gõ, tùng…; trên 300 loài cây thuốc quý như ba gạc, bình vôi, lá khôi, cây 7 lá 1 hoa…

Hệ động vật ở Bạch Mã có tới 931 loài, bao gồm 83 loài thú, trong đó nhiều loài quý hiếm như gấu, báo, hổ, sao la…; 333 loài chim, 31 loài bò sát, 21 loài ếch nhái, 39 loài cá, 218 loài bướm, 178 loài côn trùng cánh cứng ăn lá, 28 loài mối. Ðặc biệt, Bạch Mã là nơi cư trú của loài chim quý như trĩ sao và gà lôi lam mào trắng.

Trước đây, vào năm 1932, người Pháp đã cho xây dựng tại Bạch Mã một khu nghỉ mát lớn nằm ở độ cao từ 1.000 – 1.444 m so với mực nước biển. Khu nghỉ mát có 139 biệt thự, chợ, ngân hàng, bưu điện, hồ bơi, sân quần vợt và một hệ thống đường dài 19km nối quốc lộ 1A với khu trung tâm Bạch Mã.

Hiện nay, khu biệt thự cổ đã được Ban Quản lý vườn quốc gia Bạch Mã cho trùng tu, tôn tạo thành khu nghỉ dưỡng cho du khách, mang tên Đỗ Quyên, Sao La, Kim Giao…

Hy vọng với việc xây dựng chi tiết Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí của Vườn quốc gia Bạch Mã sẽ giúp cho công tác phát triển du lịch sinh thái gắn với Bảo tồn thiên nhiên một cách hiệu quả.

Khanhpn

 

Phát hành chính thức SMART 7

Sau một thời gian thử nghiệm bản SMART 7.0 đã được phát hành chính thức tại Website SMART. Với một số nâng cấp như sau:
– Giao diện mới và trải nghiệm người dùng được cải thiện;
– SMART Mobile được cập nhật thân thiện với người dùng;
– SMART Collect là một phiên bản của SMART Mobile được thiết kế để thu thập dữ liệu từ xa như các dự án cộng đồng.
SMART 7 có hơn 40 chức năng mới để hỗ trợ người dùng SMART xem thêm tại website của SMART.
https://smartconservationtools.org/Download/Download-SMART-7

Vườn quốc gia Cúc Phương giữ vững danh hiệu ‘Vườn quốc gia hàng đầu châu Á’ năm thứ 4 liên tiếp

Tối 7/9, lễ trao giải khu vực châu Á và châu Đại Dương của World Travel Awards 2022 (Giải thưởng Du lịch Thế giới) được tổ chức tại TP.HCM, gắn với Hội chợ du lịch quốc tế TP.HCM (ITE HCMC 2022).

Cúc Phương năm thứ 4 liên tiếp là Vườn quốc gia hàng đầu châu Á. Ảnh: Trip Advisor

Tại buổi lễ, Việt Nam được vinh danh là Điểm đến hàng đầu châu Á 2022 và Điểm đến thiên nhiên hàng đầu châu Á 2022. Tổng cục Du lịch nhận giải Cơ quan quản lý du lịch hàng đầu châu Á năm 2022. Thủ đô Hà Nội chiến thắng ở hạng mục Điểm đến thành phố hàng đầu châu Á 2022 về du lịch ngắn ngày, Vườn quốc gia Cúc Phương được trao giải “Vườn quốc gia hàng đầu châu Á” năm thứ 4 liên tiếp.

Trong khi đó, Mộc Châu (Sơn La) lần đầu tiên nhận giải Điểm đến thiên nhiên cấp địa phương hàng đầu châu Á 2022. Một số doanh nghiệp du lịch tại Việt Nam cũng lần đầu tiên góp mặt trong hệ thống Giải thưởng Du lịch thế giới.

Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp

Cuộc họp mạng lưới SMART lần thứ 5

Ngày 17/08/2022 tại Đà Nẵng, Tổng cục Lâm nghiệp với sự hỗ trợ của tổ chức GIZ đã tổ chức cuộc họp mạng lưới SMART lần thứ 5 với một số nội dung chính:

– Phổ biến Quyết định số 197/QĐ-TCLN-ĐDPH ngày 04/7/2022 của Tổng cục lâm nghiệp ban hành Quy trình sử dụng bộ công cụ quản lý dữ liệu và báo cáo tuần tra (SMART) tại các khu rừng đặc dụng, phòng hộ;

– Cập nhật tình hình áp dụng SMART trên toàn quốc;

– Chia sẻ về mô hình dữ liệu được cập nhật bởi các tổ chức theo yêu cầu công việc, những khó khăn và thách thức; thảo luận về những nguyên tắc hoạt động của mạng lưới SMART.

Đến dự cuộc họp có gần 100 đại biểu đại diện cho các cơ quan, đơn vị, bao gồm: Vụ Quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ; Văn phòng Tổng cục; Ban quản lý rừng hiện đang triển khai phần mềm SMART; Hiệp Hội các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên; các tổ chức (GIZ, FFI – Việt Nam, WWF – Việt Nam, GreenViet, Save Vietnam’s Wildlife,…).

CTNC cũng đang hỗ trợ một số vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và một số Ban quản lý rừng phòng hộ ứng dụng và triển khai SMART, hy vọng với sự quan tâm của các cơ quan Chính phủ thời gian tới SMART sẽ triển khai rộng khắp tại Việt Nam./.

CTNC

Phát huy tiềm năng, lợi thế và tính đa dụng của rừng

Ngày 12/8/2022, tại Vườn Quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức Hội nghị thực trạng và giải pháp phát triển bền vững các Vườn quốc gia. Bộ trưởng Lê Minh Hoan và Thứ trưởng Lê Quốc Doanh chủ trì Hội nghị. Hội nghị diễn ra với sự hỗ trợ của Tổ chức phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) thông qua hợp phần Bảo tồn đa dạng sinh học, dự án VFBC thu hút sự quan tâm của hơn 100 đại biểu đến từ các tổ chức quốc tế: GIZ, WWF, USAID, IUCN, FFI… đại diện một số trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội các vườn quốc gia; một số đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và đại diện 06 Vườn quốc gia thuộc Tổng cục Lâm nghiệp và các VQG thuộc khu vực Bắc Trung Bộ.

Theo báo cáo tại Hội nghị, cả nước hiện có 167 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích trên 2,3 triệu ha, trong đó Tổng cục Lâm nghiệp được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phân cấp giao trực tiếp quản lý 06 Vườn quốc gia: Ba Vì, Tam Đảo, Cúc Phương, Bạch Mã, Yok Don và Cát Tiên (là những vườn có diện tích rừng nằm trên địa bàn 02 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên). 06 Vườn quốc gia này chiếm 26,7% tổng diện tích các Vườn quốc gia trên toàn quốc, có nhiều hệ sinh thái rừng quan trọng, đặc trưng cho các hệ sinh thái tự nhiên; là nơi lưu giữ, bảo tồn nguồn gen đa dạng sinh học rất phong phú, quý hiếm, đặc hữu của Việt Nam; đóng góp quan trọng trong bảo vệ tính nguyên vẹn của hệ sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, giáo dục môi trường, nghiên cứu khoa học; đồng thời, góp phần quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái; cải thiện đời sống nhân dân vùng đệm, phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh – quốc phòng.

Với trọng tâm là đánh giá đúng thực trạng và tìm ra các giải pháp để phát huy tiềm năng, thế mạnh và tính đa dụng, đa giá trị của rừng, các đại biểu tham dự Hội nghị cho rằng, không chỉ 06 Vườn quốc gia trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, mà đối với 167 khu rừng đặc dụng trên cả nước đều có nhiều cơ hội, tiềm năng để phát triển trong tương lai.

Theo đó, trong thời gian tới, ngoài việc tiếp tục bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái rừng đặc trưng, tổ chức thực hiện tốt hoạt động bảo tồn, cứu hộ nuôi dưỡng, tái thả động vật hoang dã thì các Vườn quốc gia cần tiếp tục đa dạng hoá các sản phẩm du lịch sinh thái. Tập trung hoàn thành Đề án phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí giai đoạn 2021-2030 các Vườn quốc gia. Trên cơ sở đó tổ chức các dự án du lịch sinh sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí theo các phương thức phù hợp với tiềm năng, lợi thế và điều kiện thực tế của từng Vườn, khai thác đặc trưng về vẻ đẹp của cảnh quan tự nhiên, đặc trưng về văn hoá bản địa. Cần sáng tạo trong hình thức tổ chức để thu hút khách, kết hợp giữa du lịch và giáo dục môi trường; quản lý tốt các tuyến, điểm tổ chức du lịch sinh thái, nhất là các điểm cho thuê môi trường rừng. Tăng cường xã hội hoá nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Tăng cường hợp tác quốc tế, huy động sự hỗ trợ với các hoạt động cứu hộ, nuôi dưỡng, bảo tồn các loài động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm. Tiếp tục triển khai tốt hoạt động hỗ trợ phát triển đời sống người dân, cộng đồng vùng đệm thông qua khoán bảo vệ rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng. Hướng dẫn, hỗ trợ người dân phát triển canh tác, sản xuất bền vững, đảm bảo hiệu quả, góp phần tăng thu nhập cho người dân.

Liên quan vấn đề này, Bộ trưởng Lê Minh Hoan cho rằng việc cân bằng giữa bảo vệ, bảo tồn và phát triển các Vườn quốc gia cần phải cách tiếp cận phù hợp.

“Thay vì tư duy làm du lịch để kiếm tiền thì du lịch có thể là cách để tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về tài nguyên của Việt Nam cho bạn bè thế giới. Đây có thể là cách tiếp cận tích cực, được ủng hộ và phù hợp trong giai đoạn hiện nay”, Bộ trưởng Lê Minh Hoan lấy ví dụ.

Trong khi đó, với vấn đề hợp tác quốc tế, các đại biểu cho rằng cần huy động sự hỗ trợ với các hoạt động cứu hộ, nuôi dưỡng, bảo tồn các loài động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm.

Đặc biệt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng giao Tổng cục Lâm nghiệp sớm triển khai, xây dựng Đề án phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng, trong đó sẽ đề xuất xây dựng cơ chế, chính sách phát triển các giá trị dịch vụ hệ sinh thái trong môi trường rừng theo hướng đa dụng, đa chức năng để tạo nguồn thu cho các Ban quản lý rừng, cộng đồng địa phương. Trong đó, cơ chế tài chính phải tạo được động lực huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội hoá, kích thích tính năng động, sáng tạo của các Ban quản lý khu rừng đặc dụng. Nghiên cứu, sửa đổi bổ sung quy định pháp luật về lâm nghiệp, trong đó chú ý đến hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí.

Trước đó, Bộ trưởng Lê Minh Hoan, Thứ trưởng Lê Quốc Doanh và đại diện các đơn vị của Bộ NN-PTNT thực hiện tái thả động vật quý hiếm tại Vườn Quốc gia Cúc Phương. Nhóm động vật tái thả bao gồm 4 Gà lôi trắng Lophura nycthemera (nhóm IB Nghị định 06/2019/NĐ-CP; nguồn gốc nhân nuôi sinh sản bảo tồn) và 1 Trăn hoa Python molurus (nhóm IIB, Nghị định 06/2019; nguồn gốc hoang dã do người dân chuyển giao để cứu hộ bảo tồn).

Đây là sáng kiến của Vườn Quốc gia kiểu mẫu, mang thông điệp giáo dục môi trường sâu sắc và đang có sức lan tỏa lớn về bảo vệ các loài động vật hoang dã.

Đoàn công tác cũng đã tới thăm Trung tâm Cứu hộ và bảo tồn linh trưởng, Trung tâm Bảo tồn thú ăn thịt và tê tê; Trung tâm Bảo tồn rùa tại Vườn Quốc gia Cúc Phương và trồng cây lưu niệm trong khu vực khuôn viên của Vườn Quốc gia Cúc Phương.

Nguồn: Bài và ảnh Văn phòng Tổng cục Lâm nghiệp