Vào tháng 4, CTNC lần đầu tiên ghi nhận 2 đàn vượn đen má hung Nam bộ (Nomascus gabriellae) tại khu vực Đèo Cả – Hòn Nưa, mở ra những bằng chứng khoa học đầu tiên về sự hiện diện của loài quý hiếm này ở Phú Yên (nay là tỉnh Đắk Lắk). Tiếp nối phát hiện đó, trong đợt điều tra lần thứ hai đầu tháng 8/2025 tại rừng đặc dụng Tây Hòa và Sông Hinh, nhóm nghiên cứu tiếp tục ghi nhận thêm 4 đàn vượn mới. Như vậy, chỉ sau hai đợt khảo sát nhanh, tổng cộng đã có 6 đàn vượn đen má hung với ước tính ít nhất 15 cá thể được xác nhận tại khu vực – đây là nỗ lực quan trọng, khám phá ra được sự mở rộng vùng phân bố của loài ở Việt Nam.

“Việc phát hiện thêm 4 đàn vượn đen má hung tại khu vực Đèo Cả – Tây Hòa – Sông Hinh là minh chứng rõ ràng rằng nơi đây còn giữ được những mảng rừng nguyên vẹn quý giá. Đây không chỉ là niềm tự hào của địa phương, mà còn là cơ hội để chúng ta xây dựng một khu vực rừng này thành một vườn quốc gia quan trọng của Việt Nam”.
Đây là một phát hiện có ý nghĩa khoa học và bảo tồn đặc biệt quan trọng, bởi trước đó, khu vực rừng thuộc các BQL rừng đặc dụng và phòng hộ Đèo Cả, Tây Hòa và Sông Hinh chưa từng có ghi nhận chính thức nào về loài vượn quý hiếm này. Điều đó đồng nghĩa, những đàn vượn mới được phát hiện đã bổ sung thêm một quần thể mới cho khoa học, đồng thời khẳng định vai trò then chốt của các dải rừng Nam Trung Bộ trong việc duy trì sự tồn tại của loài linh trưởng đặc hữu Đông Dương này.

Hình ảnh minh họa: Vượn đen má hung Nam Bộ (Nomascus gabriellae)
Vượn đen má hung Nam Bộ (Nomascus gabriellae) là một trong những loài linh trưởng đặc hữu của khu vực Đông Dương, phân bố chủ yếu tại Nam Trung Bộ (Khánh Hòa, Đồng Nai) ,Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng) của Việt Nam và miền Đông Campuchia. Loài vượn này nổi bật với đặc điểm phân hóa giới tính rõ rệt: con đực lông đen tuyền, má hung đỏ; con cái lông vàng nhạt, đỉnh đầu có chỏm lông đen.
Giống với các loài trong nhóm Vượn, vượn đen má hung sống theo đàn nhỏ có tính gắn kết gia đình cao, thường gồm 1 cặp bố mẹ và con non. Thức ăn của chúng chủ yếu là trái cây, lá và hoa, quả. Vượn má hung Nam Bộ sinh sản trung bình khoảng 27 tháng một lần, thời gian mang thai từ 7–8 tháng và mỗi lần chỉ sinh một con non. Chúng trưởng thành sau khoảng 5 năm trong điều kiện nuôi nhốt và 7–8 năm trong tự nhiên. Tiếng hót vang xa vào buổi sáng là phương tiện giao tiếp và đánh dấu lãnh thổ đặc trưng, đồng thời giúp các nhà nghiên cứu định vị quần thể trong tự nhiên.
Theo báo cáo về bảo tồn các loài vượn của tổ chức Động thực vật thế giới (Fauna & Flora International, 2023) vượn đen má hung hiện vẫn còn phân bố ở các khu rừng thuộc Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, các quần thể này đã bị chia cắt mạnh và đang suy giảm nhanh chóng. Các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp đặt máy ghi âm, hoặc nghe trực tiếp tại các điểm nghe để xác định phân bố và cấu trúc của đàn vượn, từ đó phân tích và ước lượng được số đàn trong tự nhiên. Tổng số đàn ước tính trên cả nước vào khoảng 1.147 đàn. Trong đó, quần thể lớn nhất được ghi nhận tại Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai – Lâm Đồng – Bình Phước), ước tính khoảng 325 đàn. Tiếp đến là khu vực rừng thuộc cao nguyên Langbiang bao gồm Vườn Quốc Gia Chư Yang Sin, Vườn Quốc Gia BiDoup -Núi Bà với 183 đàn. Và cuối cùng là Vườn quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phước) với khoảng 124 đàn. Và với kết quả tạm thời của chúng tôi, cũng đã nâng cao số đàn vượn đen má hung thêm sáu đàn. Trong quá trình điều tra, người dân và cán bộ bảo vệ rừng ở cả ba BQL rừng phòng hộ, đặc dụng vẫn còn các điểm khác còn tồn tại các đàn vượn đen má hung quý hiếm mà chúng tôi chưa có thời gian để tiến hành điều tra bổ sung.
Không chỉ giới hạn ở Việt Nam, loài vượn này còn phân bố tại miền Đông Campuchia, đặc biệt là ở các tỉnh Mondulkiri và Ratanakiri. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng quần thể ở Campuchia cũng đang suy giảm nhanh chóng do nạn săn bắn lấy thịt và buôn bán trái phép. Hiện chưa có thống kê toàn cầu chính thức, song nhiều chuyên gia nhận định rằng số cá thể còn lại trong tự nhiên chỉ ở mức vài nghìn – một con số quá ít ỏi đối với một loài đặc hữu có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng nhiệt đới.
Theo phân hạng của IUCN năm 2023, vượn đen má hung được xếp vào nhóm Nguy cấp (EN – Endangered). Sách đỏ Việt Nam 2024 cũng đưa loài vào cùng bậc Nguy cấp. Kích cỡ quần thể ước tính đã suy giảm hơn 50% trong 45 năm qua. Vượn đen má hung hiện đang phải đối diện với nhiều mối đe dọa nghiêm trọng. Săn bắn và buôn bán trái phép là nguy cơ lớn nhất: nhiều cá thể bị bắn chết, phơi khô ngay trong rừng, hoặc nấu cao để bán với giá cao. Những con non còn sống thường bị bắt để nuôi cảnh hoặc buôn lậu qua biên giới. Ngay tại khu vực khảo sát, cán bộ bảo vệ rừng và người dân cho biết, việc săn bắn lén lút loài vượn vẫn thường xuyên diễn ra vì nhà buôn vẫn chào mua giá cao. Mặc dù họ ý thức được rằng, vượn thuộc nhóm IB trong nghị định 84/2021/NĐ-CP và đặc biệt được bảo vệ trong nghị định 64/2019/NĐ-CP. Ví dụ so với vụ gà lôi trắng, anh Thành ở Nghệ An, để bị phạt 5-10 năm tù, chỉ cần buôn bán, vận chuyển, săn bắt 03 cá thể đến 07 cá thể lớp thú (như vượn) hoặc từ 07 cá thể đến 10 cá thể lớp chim (như gà lôi trắng), bò sát (như rùa hộp trán vàng). Do đó, việc săn bắt, buôn bán nuôi nhốt các loài vượn, voọc (Chà vá) thì mặc dù số lượng ít hơn (nhóm nhóm chim, bò sát) nhưng nguy cơ bị truy tố trách nhiệm hình sự sẽ cao hơn.
Ngoài ra, tình trạng mất rừng do khai thác gỗ, mở rộng nông nghiệp và xây dựng thủy điện đã khiến sinh cảnh tự nhiên bị thu hẹp, các đàn vượn bị chia cắt và mất khả năng kết nối di truyền. Sự phân mảnh này không chỉ làm giảm số lượng quần thể mà còn đe dọa nghiêm trọng đến tính đa dạng di truyền của loài, khiến chúng dễ bị tổn thương trước dịch bệnh, biến đổi khí hậu và các áp lực môi trường khác.


Trước những thách thức đó, để bảo vệ đàn vượn vừa được phát hiện cũng như những quần thể vượn đen má hung hiện có, Trung tâm Công nghệ và Bảo tồn Thiên nhiên (CTNC) đã triển khai và có kế hoạch bảo tồn lâu dài tại đây..
Trước hết, CTNC đã tổ chức các khóa tập huấn SMART (Spatial Monitoring and Reporting Tool) cho 67 cán bộ bảo vệ rừng, các hộ nhận khoán và cán bộ kỹ thuật tại ba Ban Quản lý rừng Đèo Cả, Sông Hinh và Tây Hòa. SMART là công cụ thuận tiện giúp chuẩn hóa quy trình thu thập – lưu trữ – phân tích dữ liệu tuần tra, từ đó nâng cao hiệu quả giám sát các loài nguy cấp.
Song song với đó, chúng tôi đồng hành hỗ trợ kỹ thuật các đội tuần tra rừng được tổ chức thường xuyên nhằm tháo gỡ bẫy thú, ngăn chặn tình trạng xâm lấn, chặt phá rừng và phối hợp với cơ quan chức năng bắt giữ những đối tượng săn bắt trái phép. CTNC cũng đặc biệt chú trọng đến giáo dục cộng đồng, triển khai nhiều chương trình tuyên truyền pháp luật và đưa nội dung bảo tồn động vật hoang dã vào trường học. Phó giám đốc trung tâm, ông Phạm Văn Thông có chia sẻ tại buổi tập huấn:
“Nuôi dưỡng tình yêu thương động vật cho các bạn trẻ vô cùng quan trọng, vì nếu các bạn nhỏ biết yêu thương động vật hoang dã, các em sẽ biết dành tình yêu thương con người”.
![]()
Trong tầm nhìn dài hạn, CTNC và các đối tác đang xây dựng cơ sở khoa học để đề xuất nâng cấp khu vực Đèo Cả – Sông Hinh – Tây Hòa và phần diện tích rừng phòng hộ giáp ranh, liền dải thuộc tỉnh Khánh Hòa thành một Vườn quốc gia mới, với diện tích có thể lên tới 130.000 ha. Nếu thành công, đây sẽ trở thành Vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam, đóng vai trò trụ cột trong việc bảo tồn các loài linh trưởng nguy cấp, đặc biệt là loài vượn đen má hung và loài chà vá chân đen cũng mới được phát hiện gần đây bởi các chuyên gia của CTNC .


